Pháp luật
Trang chủ / Pháp luật / Pháp luật
Hỏi - Đáp về Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
04:02 PM 08/10/2019
(LĐXH)- Để giúp quý độc giả tìm hiểu thêm những thông tin cơ bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), Tạp chí Lao động và Xã hội phối hợp với Cục Việc làm (Bộ Lao động – TBXH) thông tin, giải đáp những thắc mắc về các quy định trong chính sách, trình tự thực hiện BHTN!
Hỏi: Tôi phải đóng bảo hiểm thất nghiệp hằng tháng từ lúc đi làm cho đến nay sắp nghỉ hưu, vậy tôi có thể nhận số tiền tôi đã đóng không vì tôi không thất nghiệp nên không thể nhận trợ cấp thất nghiệp theo quy định?

Nguyễn Đức Hà (Hà Nội)
 
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm thì người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật việc làm đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
+ Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;
+ Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theoquy định;
+ Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây: Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; chết.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật việc thì “bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp”.
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình bảo hiểm mang tính xã hội, một chính sách an sinh xã hội được xây dựng trên nguyên tắc mức hưởng được tính trên mức đóng, thời gian đóng và có sự chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (do mức đóng của người lao động 01 năm là 12% tiền lương nhưng mức hưởng là 60% tiền lương và tối thiểu 01 người hưởng là 03 tháng trợ cấp thất nghiệp tương ứng với 180% tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, ngoài ra còn các chế độ hỗ trợ khác) có sự hỗ trợ của nhà nước và được nhà nước bảo hộ Quỹ.
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp cũng như chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn,… mà những người tham gia đóng nhưng không mong muốn gặp rủi ro để được hưởng các chế độ từ chính sách này.
Như vậy, bảo hiểm thất nghiệp mang tính chia sẻ giữa những người tham gia, nhiều người lao động tham gia nhưng không bao giờ gặp rủi ro mất việc làm nên không hưởng trợ cấp thất nghiệp. Mặt khác, người lao động cũng không thể khẳng định mình sẽ không có nguy cơ mất việc làm, khi gặp rủi ro mất việc làm người lao động sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định, trường hợp không đủ điều kiện hưởng thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chưa được hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được bảo lưu để được hỗ trợ kịp thời khi bị mất việc làm lần sau.
 
Hỏi: Em làm việc và sống ở Nha Trang nhưng bây giờ chuyển về sống ở TP. Hồ Chí Minh, vậy em có thể đem sổ bảo hiểm xã hội và quyết định thôi việc của em về TP. Hồ Chí Minh làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp được không?

 Lê Kim Hoa (Khánh Hòa)
 
Trả lời:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp thì trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định tại Điều 16 của Nghị định này cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp.
Như vậy, người lao động chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp có thể nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp ở bất kì Trung tâm Dịch vụ việc làm thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp theo quy định nêu trên./.
 
TAG: bảo Hiểm Thất nghiệp Giải đáp bao
Tin khác
Hỏi - Đáp về Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Hỏi - Đáp về Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Hỏi - Đáp về Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Hỏi - Đáp về hoạt động dịch vụ việc làm
Hỏi - Đáp về Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Hỏi - Đáp về Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Hỏi - Đáp về hoạt động dịch vụ việc làm
Hỏi - Đáp về Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Hỏi - Đáp về chính sách bảo hiểm thất nghiệp