Lao động
Trang chủ / Lao động / Lao động
Báo chí đồng hành cùng lĩnh vực việc làm
09:21 AM 23/08/2019
(LĐXH)- Trong 3 ngày từ 22 – 24/8/2018 tại Thái Nguyên, Cục Việc làm phối hợp với Tạp chí Lao động và Xã hội (Bộ LĐTB&XH) tổ chức Hội nghị Truyền thông về việc làm.
Đồng chủ trì Hội nghị có ông Lê Quang Trung – Phó cục trưởng phụ trách Cục Việc làm; TS. Trần Ngọc Diễn – Tổng Biên tập Tạp chí Lao động và Xã hội. Hội nghị thu hút đông đảo đại biểu đại diện cho các Sở LĐTB&XH, các Trung tâm dịch vụ việc làm, cùng hơn 100 quan báo chí Trung ương và địa phương tới dự và đưa tin.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Lê Quang Trung cho biết: Hiện nay, cả nước có trên 54 triệu lao động có việc làm, tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, tỉ lệ thiếu việc làm không cao.  Với trách nhiệm của mình, Bộ LĐTB&XH đã, đang và sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về lao động, việc làm, tiềnlương, bảo hiểm xã hội góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; mở rộng phạm vi bao phủ của các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động sang khu vực phi chính thức.
Ông Lê Quang Trung và TS.Trần Ngọc Diễn chủ trì Hội nghị
Gắn đào tạo với việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Tạo bước đột phá trong giáo dục nghề nghiệp nhằm tạo chuyển biến rõ nét, thực chất về chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp, hỗ trợ người lao động hoặc là làm việc cho doanh nghiệp, hoặc là với kiến thức, kỹ năng nghề được trang bị có thể tự chuyển đổi việc làm hiện tại sang việc làm có chất lượng tốt hơn.
Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, tập trung nâng cao chất lượng phân tích, dự báo thị trường lao động, cung cấp cơ sở cho kế hoạch hóa đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm của người lao động. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trong kết nối cung-cầu lao động, không chỉ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp mà cả lao động tự do, thanh niên mới tham gia thị trường lao động.
Ông Lê Quang Trung – Phó cục trưởng phụ trách Cục Việc làm
Thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách hỗ trợ việc làm, nhất là đối với các đối tượng yếu thế như vay vốn tạo việc làm qua Quỹ quốc gia về việc làm, thực hiện chính sách việc làm công, đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhằm chuyển đổi và nâng cao chất lượng việc làm.
The ông Lê Quang Trung: Để thực thi được những thể chế, chính sách, vai trò của báo chí, các cơ quan truyền thông rất quan trọng. Trong đó nổi bật là các chính sách: hỗ trợ giải quyết việc làm; chính sách thông tin về thị trường lao động; các đơn vị hoạt động dịch vụ việc làm; quản lý lao động; chính sách bảo hiểm thất nghiệp…
Ông Lê Quang Trung mong muốn các cơ quan truyền thông, báo chí đồng hành cùng các hoạt động của Bộ LĐTB&XH, trong đó có lĩnh vực thông tin về việc làm, để xã hội nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này. Đặc biệt, Bộ LĐTB&XH xác định 3 đột phá trong năm nay, đó là về thể chế, thị trường lao động, gắn đào tạo với việc làm. Việc làm không đơn thuần là vấn đề xã hội, mà hướng tới sử dụng năng suất, chất lượng cao hơn; quan tâm đến phát triển thị trường lao động, sử dụng lao động… Do đó, báo chí đóng vai trò quan trọng trong truyền tải thông tin đến xã hội, người lao động.
** Trình bày tham luận “Năng suất lao động – việc làm tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp", GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam nhấn mạnh: NSLĐ của Việt Nam thời gian qua tiếp tục cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ khá cao trong khu vực ASEAN. Với mức tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt 7,08%, NSLĐ toàn nền kinh tế Việt Nam theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102,2 triệu đồng/lao động (tương đương 4.521 USD/lao động) hay nói cách khác,  NSLĐ năm 2018 tăng 6% so với năm 2017.
GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn
Bình quân giai đoạn 2016-2018, NSLĐ tăng 5,77%/năm, cao hơn mức tăng bình quân 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015. Tính chung giai đoạn 2011-2018, NSLĐ tăng bình quân 4,88%/năm, trong khi tăng trưởng GDP năm 2011 tăng 5,89%  so với năm 2010, tương ứng năm 2018 tăng 7,08% so với năm 2017.
Một chỉ số cũng rất quan trọng liên quan đến NSLĐ và việc làm đó là 5 năm gần đây tốc độ tăng của chỉ số CPI luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP, điều đó cho thấy những chính sách về ưu tiên ổn định vĩ mô của chính phủ đã được phát huy tác dụng tốt trong thời kỳ này.
Có thể nói, NSLĐ ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Nếu như trong giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng GDP bình quân đạt 5,91%/năm, trong đó lao động tăng 1,5%/năm; tăng NSLĐ đạt 4,35%/năm, thì trong 3 năm 2016-2018, mặc dù lao động chỉ tăng 0,88%/năm nhưng NSLĐ đạt tốc độ tăng bình quân 5,77%/năm, cao hơn giai đoạn trước 1,42 điểm phần trăm nên GDP tăng trưởng bình quân đạt tốc độ 6,7%/năm.
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, số liệu thống kê cho thấy, ngành khai khoáng có NSLĐ cao nhất do đây là ngành có tính đặc thù. Tuy nhiên, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản lại có mức NSLĐ rất thấp, thấp nhất trong các khu vực kinh tế. Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế về quy mô nhưng NSLĐ của khu vực này chưa thể hiện rõ vai trò chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng nhanh.
So với các loại hình doanh nghiệp khác, NSLĐ của doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt thấp nhất; mặt khác, khoảng cách về năng suất lao động của doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với doanh nghiệp ngoài Nhà nước đang ngày càng nới rộng. 
Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong thời gian qua luôn có tác động tích cực đến cải thiện NSLĐ thông qua việc các doanh nghiệp này mang công nghệ sản xuất và quản lý tiên tiến vào đầu tư trong nước. Tuy nhiên, theo Báo cáo năm 2017 của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ các doanh nghiệp nước ngoài sử dụng nguyên vật liệu làm đầu vào trong nước ở Việt Nam đạt 67,6%, thấp hơn nhiều so với một số nước như Trung Quốc (97,2%); Ma-lai-xi-a (99,9%) hay Thái Lan (96,4%).
Nói về các yếu tố ảnh hưởng đến tăng năng suất lao động ở Việt Nam, theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, có 4 chỉ số chính tác động đến năng suất lao động. Chỉ số thứ nhất, nông nghiệp, thủy hải sản chiếm hơn 42% tổng số lao động toàn xã hội nhưng chỉ đóng góp khoảng 16% GDP. Hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng thời gian lao động trong rất thấp. Các bất cập về hạn điền, chuyển nhượng đất... trở thành điểm nghẽn đối việc tích tụ ruộng đất, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nhằm gia tăng NSLĐ.
Chỉ số thứ hai, các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo tuy phát triển nhưng năng lực và tiềm lực còn hạn chế. Năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2018 đứng thứ 77, đổi mới sáng tạo đứng thứ 82 của thế giới[2]
Chỉ số thứ ba, số lượng lực lượng lao động đông nhưng chất lượng còn thấp, thiếu nhân lực chất lượng cao, thiếu có kiến thức, kỹ năng trong nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao.
Toàn cảnh Hội nghị
Chỉ số thứ tư, số lượng doanh nghiệp phát triển nhanh song hiệu suất, hiệu quả quản trị doanh nghiệp còn thấp. Doanh nghiệp khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có năng suất lao động cao nhưng chậm lan tỏa đến khu vực doanh nghiệp trong nước; doanh nghiệp nhà nước có tài sản lớn nhưng kém năng lực cạnh tranh, hiệu quả sử dụng còn hạn chế; khu vực doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn song phần lớn có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa, năng lực đổi mới sáng tạo, đầu tư công nghệ mới và liên kết yếu.
Để tăng năng suất lao động, theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, cần xác định các ưu tiên  quốc gia. Việt Nam cần các hành động một cách có hệ thống trong lĩnh vực chính sách công nghiệp và các tín hiệu rõ ràng về triển vọng của việc làm trong công nghiệp là vô cùng quan trọng đối với thị trường lao động quốc gia và các tác nhân chính gồm xã hội, doanh nghiệp, nhà nước, cộng đồng địa phương và công đoàn.
Xây dựng cơ chế cán bộ mở để hút người tài và khoa học - công nghệ không phải là duy nhất. Bên cạnh đó, phải tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ. Việt Nam cần khởi xướng phong trào năng suất quốc gia. Tiếp đó, cần thành lập cơ quan thực thi có hiệu quả việc tăng năng suất; thiếp lập mục tiêu năng suất và giám sát việc thực hiện mục tiêu đó; có chiến dịch nâng cao nhận thức về năng suất và sử dụng công cụ nâng cao năng suất.
Giải quyết 4 nút thắt đối với tăng năng suất lao độngđó là thể chế kinh tế (như quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường lao động còn hạn chế, tiền lương chưa vận hành linh hoạt theo tín hiệu thị trường…); trình độ, kỹ năng lao động còn thấp; nút thắt cơ sở hạ tầng, đất đai, tài chính quá lớn khiến các nguồn lực này chưa được giải phóng phát huy hiệu quả; nền tảng và năng lực khoa học công nghệ chưa cao, đặc biệt phương diện đầu tư và ứng dụng công nghệ.
Cuối cùng, lao động phải được trang bị vốn và công nghệ mới để có thể phát huy năng lực. Do đó, đầu tư cho khoa học - công nghệ là chính sách đặc biệt ưu tiên của Chính phủ. Chiến lược đào tạo kỹ năng lao động và đầu tư công nghệ cần bảo đảm tương thích với nhau để đạt hiệu quả tốt nhất.

** Thông tin về kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHTN, ông Trần Tuấn Tú – Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp (Cục Việc làm) cho biết: Chính sách BHTN là chính sách mới trong các chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, là công cụ quản trị thị trường lao động, là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm. Song quan trọng hơn vẫn là tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm.

Ông Trần Tuấn Tú trình bày tại Hội nghị

Đến nay, các chính sách về HBTN đã được ban hành đồng bộ, đầy đủ, kịp thời, đáp ứng được những vấn đề đặt ra và theo thông lệ quốc tế. Các chính sách đã đi vào cuộc sống, hỗ trợ người sử dụng lao động và người lao động, thực sự là điểm tựa của người lao động, người sử dụng lao động; góp phần đảm bảo an sinh xã hội; được các ngành, các cấp và xã hội đánh giá cao.

Số người tham gia BHTN liên tục tăng qua từng năm, đến nay là gần 13 triệu người tham gia, vượt so với dự kiến. Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề ngày càng được tăng cường và hiệu quả; 96,8% được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí, hơn 180 nghìn người được hỗ trợ học nghề.

Sau 10 thực hiện, số người tham gia và đóng BHTN liên tục tăng qua các năm và đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Nếu năm 2009 mới chỉ có 5.993.300 người tham gia BHTN thì tới năm 2015 (năm đầu tiên Luật Việc làm có hiệu lực) đã có 10.308.180 người tham gia, tăng 11,8% so với năm 2014; năm 2016 có 11.061.562 người tham gia, tăng 7,3 so với năm 2015; năm 2017 có 11.774.742 người tham gia, tăng 8,1% so với năm 2016 và năm 2018 có 12.680.173 người tham gia, tăng 7,7% so với năm 2017, bằng 87,7% tổng số người tham gia BHXH bắt buộc (14,45 triệu người), tổng số đơn vị tham gia BHTN là 361.586 đơn vị.

Tổng số tiền thu BHTN không ngừng tăng qua các năm. Tính đến thời điểm năm 2018, bình quân số tiền đóng BHTN hằng thàng của người lao động là trên 4,9 triệu đồng, tăng 9,94% so với bình quân tiền đóng năm 2017. Tổng số tiền thu BHTN năm 2018 là trên 15.500 tỷ đồng, tăng 14,9% so với tổng số tiền thu năm 2017 (13.517 tỷ đồng).

Về chỉ tiêu trong thời gian tới, lãnh đạo Cục Việc làm thông tin: Giai đoạn đến năm 2021: phấn đấu đạt khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; tỉ lệ giao dịch điện tử đạt 100%; thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Giai đoạn đến năm 2025: phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Giai đoạn đến năm 2031: phấn đấu đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

** Cũng tại Hội nghị, các đơn vị chuyên môn của Cục Việt làm như: Phòng BHTN, Phòng Quản lý lao động, Phòng Thị trường lao động, Phòng chính sách việc làm cũng đã thông tin một số vấn đề quan trọng như Đề án nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị thực hiện chính sách BHTN theo tình thần Nghị quyết số 28-NQ/TW; Một số nội dung về tuyển và quản lý lao động ngoài nước tại Việt Nam; Công ước số 88 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về tổ chức dịch vụ việc làm và những vấn đề đặt ra cho tổ chức dịch vụ việc làm Việt Nam; Kết quả thực hiện hoạt động cho vay vốn hỗ trợ tạo việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm và định hướng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2015/NĐ-CP; Chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù.

Ông Phùng Quốc Vương – Trưởng Phòng quản lý lao động, Cục Việc làm Trình bày tham luận ”Một số nội dung về tuyển vè quản lý lao động ngoài nước tại Việt Nam”.

** Về giải pháp nâng cao hiệu quả vốn vay từ Quỹ Quốc gia về việc làm và những vấn đề đặt ra trong công tác tuyên truyền, ông Nguyễn Văn Tú, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam cho biết: Trải qua bề dày 17 năm triển khai thực hiện quản lý và cho vay giải quyết việc làm, chương trình đã đạt được những kết quả tích cực.

Với sự cố gắng tích cực của NHCSXH trong triển khai hoạt động cho vay và được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành từ trung ương đến địa phương, chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm từ khi NHCSXH nhận bàn giao đến nay đã góp phần tích cực giải quyết hơn 3,7 triệu lao động có việc làm với gần 2,4 triệu lượt khách hàng được vay vốn, góp phần khôi phục các ngành nghề truyền thống, hỗ trợ vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và hộ gia đình mở rộng sản xuất, thu hút tạo việc làm cho nhiều người lao động, qua đó góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.

Trong những năm qua, NHCSXH đã thực hiện tốt việc cấp tín dụng chính sách cho các đối tượng thụ hưởng ở khắp các vùng miền, thông qua mô hình tổ chức và phương thức chuyển tải vốn tín dụng đặc thù của mình. Nguồn vốn tín dụng chính sách đã được đầu tư đến 100% các xã, phường trên toàn quốc.

Ông Nguyễn Văn Tú trình bày tại Hội nghị

NHCSXH có mạng lưới hoạt động rộng khắp cả nước tới cấp xã, đưa vốn về tận trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã để giải ngân, thu nợ, thu lãi, dưới sự chứng kiến, giám sát của chính quyền địa phương, các tổ chức hội đoàn thể nhận ủy thác, Tổ trưởng Tổ Tiết kiệm và vay vốn. Đồng thời, NHCSXH đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức hội đoàn thể nhận ủy thác trong việc giám sát, quản lý vốn vay, từ đó nguồn vốn đã được đáp ứng kịp thời, đúng lúc, giúp người lao động, cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng vốn vay có hiệu quả, phát triển sản xuất, tạo việc làm, tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người lao động.

Hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội nói chung và cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm đã khẳng định phương thức quản lý, mô hình tổ chức quản trị, điều hành, tác nghiệp của NHCSXH là hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta, đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của cả xã hội tham gia vào công cuộc giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội.

Nhằm nâng cao hiệu quả vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm, NHCSXH đề xuất: Chính phủ cân đối, bố trí đủ nguồn lực để hàng năm cấp đủ nguồn vốn cho vay Quỹ quốc gia về việc làm, vì hiện nay nhu cầu vay vốn tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm hiện nay là rất lớn. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục nghiên cứu, tham mưu trình Chính phủ xem xét, điều chỉnh lãi suất vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm lên bằng lãi suất vay vốn đối với hộ cận nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định, nâng mức cho vay, thời hạn cho vay từ Quỹ quốc gia về việc làm cho phù hợp với nhu cầu vay vốn, thời hạn vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm trong giai đoạn hiện nay.

Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục quan tâm bố trí nguồn vốn từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác ủy thác qua NHCSXH để cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Tăng cường chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp chặt chẽ hơn nữa với NHCSXH trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách; lồng ghép có hiệu quả các chương trình khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư ... với hoạt động cho vay từ Quỹ quốc gia về việc làm. Các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, chỉ đạo tổ chức hội các cấp thực hiện tốt các công đoạn ủy thác, phối hợp chặt chẽ với NHCSXH trong việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách, củng cố hoạt động của Tổ Tiết kiệm và vay vốn, tăng cường công tác kiểm tra giám sát, đôn đốc thu hồi nợ đến hạn.

Ông Lê Văn Hồng – Phó giám đốc Chi nhánh NHCSXH tỉnh Thái Nguyên cho biết, nhu cầu nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh rất lớn, trong khi nguồn vốn còn khiêm tốn.

Gắn đào tạo với việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Tạo bước đột phá trong giáo dục nghề nghiệp nhằm tạo chuyển biến rõ nét, thực chất về chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp, hỗ trợ người lao động hoặc là làm việc cho doanh nghiệp, hoặc là với kiến thức, kỹ năng nghề được trang bị có thể tự chuyển đổi việc làm hiện tại sang việc làm có chất lượng tốt hơn.
Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, tập trung nâng cao chất lượng phân tích, dự báo thị trường lao động, cung cấp cơ sở cho kế hoạch hóa đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm của người lao động. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trong kết nối cung-cầu lao động, không chỉ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp mà cả lao động tự do, thanh niên mới tham gia thị trường lao động.

** Trong tham luận Truyền thông định hướng việc làm trong thời đại CMCN 4.0, ThS. Nguyễn Hồng Anh, Giám đốc TT Phát triển Công nghệ giáo dục,  Hiệp hội các Trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam cho rằng, hiện tại với nhu cầu tuyển dụng của hơn 700 nghìn doanh nghiệp tại Việt Nam, cùng việc cần thiết phải định hướng và nhanh chóng hỗ trợ sinh viên có cơ hội việc làm, nếu công tác truyền thông định hướng việc làm vẫn đi theo cách làm truyền thống, chúng ta sẽ gặp rất nhiều bất cập về thời gian, công sức, tính hiệu quả vì số lượng sinh viên đã lên tới con số khổng lồ là khoảng 1,8 triệu.

ThS. Nguyễn Hồng Anh

Theo số liệu được tổng hợp từ nhiều nguồn thì hiện nay những sinh viên đã tốt nghiệp kiếm được việc làm chủ yếu qua các nguồn sau: được các doanh nghiệp hỗ trợ, tuyển dụng trực tiếp tại trường; thông qua ngày hội việc làm cho sinh viên; các sàn giao dịch việc làm, trung tâm dịch vụ việc làm, trung tâm hỗ trợ sinh viên và quan hệ doanh nghiệp của trường đại học; các mạng thông tin việc làm như vietnamworks, linkedin; thông tin tuyển dụng của các doanh nghiệp đăng trên website, internet, báo đài...; được người thân giới thiệu; tìm việc bán thời gian từ khi còn đi học; tự khởi nghiệp.

Thoạt nhìn, những nguồn cung cấp việc làm trên khá phong phú. Tuy nhiên, nó lại cho thấy khá rõ một bất cập là các nguồn trên đều đơn lẻ, mang tính độc lập cao, sự liên kết yếu ớt. Việc thiếu cập nhật thông tin và thiếu tính liên kết gây ra vấn đề là thị trường lao động chậm trong việc cung ứng việc làm cho sinh viên cũng như nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Việc bỏ sót các thông tin cần thiết để giúp sinh viên học sinh có hành trang vào đời, vào việc đã gây ra những phí tổn không nhỏ bởi những nguyên nhân như sau:

Vậy, có thể cải thiện hiện trạng và giải quyết những bất cập trên như thế nào? ThS. Nguyễn Hồng Anh đặt vấn đề là khẳng định: Một trong những giải pháp là tận dụng lợi thế của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hay còn gọi là Cách mạng 4.0”. Cùng với đó là xây dựng cơ sở dữ liệu chun.

Khi đã có một cơ sở dữ liệu chung, khó khăn tiếp theo là duy trì tính cập nhật của dữ liệu, tiếp tục thu thập, xử lý, phân tích và sử dụng dữ liệu (khâu cuối dành cho mục đích truyền thông định hướng việc làm).

Tiếp theo, khi đã có số liệu cơ bản, chúng ta cần tính đến độ cập nhật liên tục của dữ liệu, khi đó IoT đóng một vai trò hết sức cần thiết. Vì, dữ liệu có thể được cập nhật theo thói quen sử dụng các nền tảng mạng xã hội, các thiết bị thông minh; dữ liệu có thể được thu thập qua các ứng dụng OTT như Facebook Messenger, Viber, Zalo, WeChat... Từ đó, chúng ta sẽ xây dựng thêm các trường dữ liệu khác nhau cho người dùng.

“Như vậy, với sự bùng nổ của internet và người dùng các thiết bị, điện thoại thông minh tại Việt Nam cùng sự ra đời của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mà đã xóa mờ đi ranh giới giữa các lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ... Xu hướng truyền thông tận dụng những lợi thế của thời kỳ 4.0 là tất yếu và truyền thông định hướng việc làm cho sinh viên cũng không nằm ngoài xu hướng đó” - ThS. Nguyễn Hồng Anh nhấn mạnh.

** Chia sẻ kinh nghiệm thực hiện chính sách việc làm, kết nối cung cầu lao động và BHTN trên địa bàn tỉnh, bà Phạm Như Thùy – Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Thái Nguyên cho biết, xác định giải quyết việc làm cho người lao động là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế  - xã hội, Trung tâm Dịch vụ việc làm Thái Nguyên thường xuyên tổ chức các hoạt động nhằm thu thập, cập nhật, phân tích tổng hợp thông tin thị trường lao động, xây dựng báo cáo tổng hợp về tình hình thị trường lao động.

Làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo, tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng lao động trong và ngoại tỉnh nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng các thông tin về cơ hội việc làm, vị trí việc làm trống, nhu cầu tuyển dụng của các đơn vị, doanh nghiệp, nhu cầu, chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở đào tạo. Thu thập, tổng hợp thông tin thị trường lao động trung bình đạt 3 – 4 ngàn doanh nghiệp/ năm, với nhu cầu tuyển dụng từ 60 – 80 ngàn lao động/ năm; hàng năm Trung tâm đều tiến hành ký hợp đồng tuyển và cung ứng lao động với từ 50 – 100 doanh nghiệp trên địa bàn trong và ngoài tỉnh.

Trung tâm thường xuyên tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về thông tin thị trường lao động,chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Trung bình hàng năm, Trung tâm tổ chức từ 20 - 30 Hội nghị tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động được tổ chức tại Trung tâm và các địa phương, doanh nghiệp. Qua đó cung cấp thông tin thị trường lao động tới từ 25 – 35 ngàn lượt người/ năm.

Hoạt động Sàn giao dịch việc làm tỉnh Thái Nguyên được Trung tâm thực hiện ngày càng hiệu quả, đa dạng về hình thức, tăng về số lượng; giúp người lao động thêm cơ hội tìm được việc làm, hỗ trợ các đơn vị tham gia thị trường lao động nâng cao nhận thức, khả năng phối hợp trong quá trình kết nối cung - cầu lao động trên địa bàn tỉnh. Nâng cao nhận thức và tuyên truyền huy động mọi lực lượng trong xã hội, các cấp, các ngành liên quan phối hợp thực hiện công tác giải quyết việc làm.

Việc thực hiện chính sách việc làm, kết nối cung cầu lao động và bảo hiểm thất nghiệp tại Thái Nguyên được triển khai đồng bộ, có hiệu quả, thiết thực hỗ trợ người lao động về nhận thức, thông tin và tư vấn, hỗ trợ NLĐ hưởng các chế độ theo quy định; góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, ổn định xã hội.Môi trường giao dịch cải tiến theo hướng thân thiện, thuận tiện, khoa học và hiệu quả; tích cực đổi mới, ứng dụng công nghệ thông tin.

Bà Phạm Như Thùy cũng mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, trao đổi thông tin với các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương.

** TS. Nguyễn Công Dũng - Phó Tổng biên tập thường trực Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam chia sẻ: Để tăng tỷ lệ lao động có việc làm, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập thì thông tin tuyên truyền, nhất là trên báo điện tử là một trong những công cụ cần được chú ý hơn. Để công tác tuyên truyền về lĩnh vực việc làm có hiệu quả, điều quan trọng là: cần xác định rõ đối tượng cần tuyên truyền; hai là, nội dung tuyên truyền; ba là, phương thức tuyên truyền. Các đối tượng quan trọng cần được tuyên truyền, đó là các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền, các nhà quản lý, các nhà sản xuất - kinh doanh và những người lao động.

TS. Nguyễn Công Dũng chia sẻ thông tin tại Hội nghị

Về nội dung tuyên truyền, cần chú ý đến những tác động của các Hiệp định thương mại tự do đã ký kết, chuẩn bị ký kết; tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0… đến toàn nền kinh tế nói chung và đến thị trường lao động nói riêng. Khi tuyên truyền, cần nêu rõ Việt Nam có cơ hội gì, thách thức gì…? cần phải chỉ ra thật rõ để cho tất cả các cấp lãnh đạo, các cấp quản lý, các nhà sản xuất, kinh doanh, những người lao động hiểu kỹ và tìm cách nắm lấy thời cơ, tận dụng thời cơ để đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường trong và ngoài nước do những điều kiện thuận lợi đem lại; mặt khác, cũng cần chỉ rõ từng thách thức, từng khó khăn để cho các cấp lãnh đạo, các cấp quản lý, giới doanh nhân, doanh nghiệp nhận thức rõ những thách thức này để thực sự có những giải pháp lãnh đạo, giải pháp quản lý, giải pháp sản xuất, kinh doanh hiệu quả vượt qua những thách thức.

TS. Nguyễn Công Dũng cho rằng, khi tuyên truyền, cần có những tác phẩm báo chí ủng hộ những tập thể, các nhà sản xuất, kinh doanh, những người lao động; cần phát hiện cho được các nhân tố mới, điển hình tiên tiến để tuyên truyền nhân rộng, qua đó, góp phần quảng bá thương hiệu Việt, quảng bá hình ảnh của các doanh nghiệp, nhà sản xuất; qua đó nhằm tạo được một phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả, nâng cao chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh của từng mặt hàng, từng ngành hàng, từng doanh nghiệp để giới doanh nhân, doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, có nhiều đơn hàng, tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.  

Đa dạng hoá phương thức tuyên truyền. Với lợi thế của báo điện tử là đa phương tiện, khi tuyên truyền về lĩnh vực lao động, việc làm, các phóng viên cần xác định rõ đối tượng tuyên truyền, nội dung tuyên truyền để từ có có hình thức tuyên truyền phù hợp như tích hợp âm thanh, hình ảnh, video vào các tác phẩm báo chí…

** Trao đổi tại Hội nghị, TS. Nhà báo Trần Bá Dung - Ủy viên Thường vụ,Trưởng Ban Nghiệp vụ Hội Nhà báo Việt Nam gợi ý khắc phục khó khăn trong truyền thông về việc làm, quản lý lao động và bảo hiểm thất nghiệp.

TS. Trần Bá Dung

Trước hết, nhà báo cần trang bị kiến thức, quan điểm tiếp cận vấn đề về an sinh xã hội, để có cách nhìn toàn diện, sâu sắc. Cần nhận thức báo chí - truyền thông có vai trò quan trọng trong việc ”tham gia giải quyết các vấn đề liên quan tới nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng”.

Nhà báo cần tuyên truyền, phổ biến, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước về việc làm, quản lý lao động và bảo hiểm thất nghiệp. Tuyên truyền, giáo dục công chúng thấy được ý nghĩa, vai trò quan trọng của việc làm, quản lý lao động và bảo hiểm thất nghiệp trong đời sống nhân dân; thấy được vai trò chủ thể, vai trò giám sát của nhân dân trong xây dựng và thực thi các chính sách việc làm, lao động, bảo hiểm, phát triển đời sống, kinh tế - xã hội.

Để thay đổi thái độ của công chúng, báo chí phải vừa cung cấp thông tin, phản ánh thực trạng, vừa hướng dẫn, định hướng công chúng về thái độ ứng xử đúng mực đối với vấn đề việc làm, bảo hiểm thất nghiệp và quản lí lao động. (Chẳng hạn, báo chí cần làm thay đổi thái độ từ thờ ơ sang quan tâm thiết thực đối với việc đóng bảo hiểm thất nghiệp).

Để thay đổi hành vi, báo chí cần hướng dẫn, định hướng cho công chúng, cung cấp những mô hình, hình mẫu tốt về dịch vụ việc làm để người dân học tập, làm theo.

Theo TS.Trần Bá Dung, báo chí cần thực hiện kết hợp những kĩ năng sau đây: Tuyên truyền + Phản ánh + Phản biện + Nêu gương. Tuyên truyền thường xuyên, kịp thời đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước về việc làm, quản lí lao động và bảo hiểm thất nghiệp.  Hình thức truyền thông cần sinh động, phù hợp với trình độ, thói quen, tâm lí tiếp nhận của người lao động, người sử dụng lao động. Thường xuyên phản ánh những cách làm hay, kinh nghiệm tốt, những tấm gương tiêu biểu khi tham gia giải quyết việc làm, quản lí lao động và bảo hiểm thất nghiệp.  Rèn kĩ năng phát hiện đề tài, khai thác và xử lí thông tin về việc làm, quản lí lao động và bảo hiểm thất nghiệp.

** Nhà báo Lâm Quốc Minh (Đài Truyền hình Hà Nội) nhấn mạnh, từ chính sách đến cuộc sống cần có sự vào cuộc của báo chí. Những chuyến đi thực tế là hết sức quan trọng đối với nhà báo. Đối với lĩnh vực việc làm, sự phối kết hợp là không thể thiếu, đó là nhà quản lý, nhà truyền thông và NHCSXH. “Kiềng ba chân” này hy vọng sẽ gắn chặt chẽ hơn nữa trong thời gian tới, cũng nhcần có sự phối kết hợp đề án truyền thông về việc làm.

Nhà báo Lâm Quốc Minh


Trước đó, Ban tổ chức Hội nghị đã bố trí cho các phóng viên đi thực tế tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Thái Nguyên và các điển hình về mô hình vay vốn phát triển kinh tế từ Quỹ Quốc gia về việc làm.
Ban Tổ chức chụp ảnh lưu niệm cùng các diễn giả, phóng viên báo chí
Kết luận Hội nghị, TS Trần Ngọc Diễn khẳng định: Trong những ngày diễn ra Hội nghị, Ban tổ chức đã cung cấp đầy đủ “nguyên liệu” cho các nhà báo, thông qua việc tổ chức 2 đoàn đi thực tế cũng như thông tin từ các bài tham luận. Ban tổ chức mong muốn sau Hội nghị, các nhà báo có nhiều ấn phẩm thể hiện được nội dung, ý tưởng của Ban Tổ chức. Tạp chí  và Cục Việc hoan nghênh và sẽ ghi nhận, đánh giá những tác phẩm hay, phản ánh sinh động về lĩnh vực việc làm./.
Nhóm PV
TAG: lao động Việc Làm báo Chí
Tin khác
Gần 1200 vị trí việc làm cần được tuyển dụng tại Hội chợ việc làm dành cho lao động EPS và thực tập sinh IM Japan về nước tại Hà Nội
Nestlé Việt Nam tăng cường đầu tư, tạo 600 việc làm trực tiếp và hàng nghìn việc làm gián tiếp ở Hưng Yên và khu vực phía Bắc
Bảo vệ và hỗ trợ phụ nữ trong các ngành nghề độc hại, nguy hiểm: Kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị
Hà Giang gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm
Diễn đàn bàn giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng và hội nhập quốc tế
Hiệu quả đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh ở Hà Giang
Kết quả thực hiện hoạt động cho vay vốn hỗ trợ tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm
Công ty Changshin Việt Nam:Tặng quà cho 4 gia đình công nhân đã xây dựng được nhà mới
Khai giảng khóa 5 ngành điều dưỡng và chăm sóc người già tại CHLB Đức